Việt Báo Việt Nam PDA


Mùa hoa cúc quỳ

Thứ ba, 27 Tháng một 2009, 09:55 GMT+7

Hoa đồi như dải gấm thêu”. Câu thơ ấy, hình như là cụ Lý Bạch, tận Trung Hoa tự đời nảo nào, làm ra để tả về vùng Tây Bắc của ta mùa giáp đông. Chưa mưa xuân, những cành ban còn khụng khiệng ủ cái sắc trắng sẽ dậy thì rực rỡ. Nhưng đẹp đến ngỡ ngàng là những vạt cúc quỳ.

 

Quãng đường chúng tôi đi, dù bằng ô tô, xe máy hay “căng hải”, màu vàng cúc quỳ vẫn khiến rạo rực, đắm đuối. Không thành cánh đồng như Tây Nguyên phẳng phiu, nó trào  từ con suối dưới vực hoắm lên đu đưa bên những khoảnh ruộng Mông xếp đá bé bằng cái khăn tay. Cúc quỳ đủn vào nắng trong, giá lạnh, trời xanh cái cảm giác mong manh khó gọi, báo hiệu giao mùa, những thay đổi có thể rất quen thuộc về một chu kỳ sống, mà cũng có thể rất trọng đại trong đời con người vùng cao.

 

*

* *

 

Mua hoa cuc quyCái gọi là chợ tình người xuôi biết đến nhiều nhất là ở Sa Pa - Lào Cai. Với những chàng trai đeo cát xét phát câu giao duyên, chảo thắng cố lòng trâu giặt sạch đến chả còn mùi hoi, nó chỉ còn lạ ở y phục Mông, trầm trầm tràm, những hoa văn cũng tối thẫm chứ không rối rít màu du lịch như mạn Bắc Hà. Chợ Khâu Vai Hà Giang ít dân Kinh lên hơn cũng quá phẳng phiu, tìm được một bụi chó đẻ để “từng đôi chim bay đi” lúc nửa đêm không dễ. Có nghĩa là cái sắc chợ tình, năm mới có một lần, để giải phóng những kẻ đang bị trói buộc vào vòng vợ chồng được gặp lại, phả phê với tình xưa nghĩa cũ, hay chỉ để đực cái với người mới, đã phai đi nhiều lắm. Nhiều thằng nhiều đứa rình xem thế, lấy đâu ra cơ trốn đi bứt phá khỏi tôn ty tập tục, giải phóng bản năng. Thế nên nó hầu như là chỉ để diễn, có lợi cho ngành văn hóa du lịch mà thôi.

 

Chợ phiên Dào San trên Phong Thổ Lai Châu lại khác. Họp vào sáng chủ nhật, hai ba giờ chiều thì tắt, trước hết nó là một cái chợ. Thuộc vùng biên giới, tất nhiên hàng Trung Quốc phải nhiều: máy phát điện chạy nước, chảo bắt sóng truyền hình. Hàng ta thì vô thiên lủng: gà “thịt rắn như vận động viên” 80-90 nghìn một cân, rượu sắn một chục, mỡ nước lợn đen sáu chục một lít, váy Mông 80 nghìn nhưng không thuần sợi bông mà dính tý ny lông, xôi nếp cẩm 5 nghìn ú ụ gói lá dong; kể ra cũng đắt so với túi đồng bào. Nhưng có là gì, khi nó còn là nơi giao lưu khái hoạt, để mà nhìn ngắm, nghe ngóng, hỏi han nhau những chuyện gà chó, phô con uyn tầu mới cứng, và điện thoại di động dù chửa chắc đã có sóng. Những đàn bà Dao có chồng cạo sạch tóc, chưa thì cặp tóc, cắp nách con lợn đôi yến đi từ nửa đêm, bán xong gọi bát phở rõ nhiều mỳ chính, giở gói xôi trong bọc ra chan chứa. Những cô bé nhẫn nại đeo lù cở củi đứng yên ngoài chợ, không thể đặt xuống vì củi gắn bó với rừng, chưa bán được mà đặt nằm xuống nó bẩn mất. Bên bát thắng cố bốn chục, loại “đại tướng”, chấm muối hột dầm ớt tươi nướng cay xé lưỡi, người vùng thấp vùng cao chồm hổm hỏi han gỗ lạt, chúc nhau sức khỏe, bát năm  thành bạn, sang bát mười đã hóa anh em rồi.

 

Và phải có tình chứ! Chàng Mông vác bó mía xương gà vàng óng xuống, bán xong chọn chiếc khèn thật ưng ý ra bãi trống quay cuồng. Chàng phải thật tinh ý, tình tứ, tỉnh táo, đừng để chân co chân bật lò xo vấp vào hòn cuội ngã vật ra. Bởi vì  những nàng kia đeo vòng bạc, nàng kĩa nàng kìa tay thoăn thoắt đường thêu, tay dắt ngựa đang dõi theo chấm điểm mà. Em bỏ bùa vào phiên chợ, đã có câu thơ như thế. Để rồi giá thân em là sợi lanh sợi chỉ, anh cuốn vào người để sợi cùng theo…, Ta lê bước về nhà, hồn còn ngủ ở thắt lưng em. Phiên sau, hễ người ấy không xuống, hoặc xuống mà chỉ đứng chực bên cái thằng say không túm nổi đuôi ngựa lên dốc, thì tình hình đã đến mức anh yêu em như bị ma quỷ trêu rồi.

 

Ôi dào Dào San, cái chợ biên đến là lắm đỗi lắm nỗi... Lai Châu hai mươi dân tộc lắm khúc dào lên như thế lắm. Ngoài chợ phiên còn vô số hội, mỗi anh mỗi kiểu. Người Thái có Kin pang then để cúng tế, ăn khao trời, Xên pang để mừng sự sinh sôi, uống rượu măng. Người Mông du xuân múa khèn, người Dao cấp sắc (bằng) cho con trai trưởng thành. Dân ca Cống có những bài (không biết có cải biên tẹo nào?) cả nước hát như “Chiếc khăn piêu thêu chỉ hồng...”, “Con gà gáy le té le te rồi ai ơi...”. Giữa đất trời vừa ngây ngất vừa hung hiểm, họ cứ thế, hồn nhiên đến thảo mộc, yêu là đập cánh vẫy gọi, không được cha mẹ ưng thì ăn lá  ngón vĩnh biệt. Chả gì trọng bằng cái sự thơ thới ngất ngưởng. Đến nỗi mà có câu để đời của một anh về thăm Thủ đô: “Đứng ở chỗ chờ đèn đỏ, nhìn nét mặt ai cũng thấy kinh lắm!”.

 

*

*   *

 

Nhưng mà Tây Bắc chả phải chỉ có í à í ợi chợ tình sao người ấy không xuống chợ sao người anh em không uống với ta thêm dăm bát nữa. Đang có những sự những chuyện trời long đất lở, ảnh hưởng đến cả gốc rễ làng bản, nơi có những con người nghìn đời nay gắn bó với khe nước, con suối ấy, ông thần rừng, tảng đá thiêng ấy. Mà đi liền ngần nấy “ấy” bao giờ cũng có những thần thoại, huyền tích, tách khỏi không gian cũ thì có nhẽ sẽ “hủm” đi nhanh chóng.

 

Dễ thấy nhất là những vùng sẽ bị ngập khi hồ thủy điện Sơn La hình thành. Cách nay hai chục năm, nhà thơ Thanh Thảo đã tính lên Hòa Bình để “cứu” kho tàng sử thi, thần thoại   Mường sắp bị “chôn” xuống nước. Nay thì càng lắm chuyện. Với “cái ao to” đang hiện lên ở thượng nguồn đập Pá Vinh - Mường Lay (Sơn La), cả vài chục tộc người của hai ba tỉnh phải ly hương, dù có anh chỉ “di vén”, tức là leo lên cao hơn chỗ ở vài chục mét thôi. Nhưng mà nói đến sự mất mát di sản văn hóa thì xa xỉ quá. Dân phải di chuyển, gọi là tờ đờ cờ (tái định cư) chả phải chỉ có mất mát, mà phần được cũng lắm. Nhưng ngay trước mặt họ đang có những nỗi gian nan, giới quan chức hay báo chí quen gọi là “thử thách”.

 

Xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ Lai Châu, chủ yếu người Lự, là nơi chỉ “di vén”, đi xa nhất có hơn cây từ bờ Nậm Mạ (suối mẹ) leo lên 200 mét. Trường học, trạm xá, trụ sở ủy ban, đường tỉnh lộ trải nhựa dọc xã, bãi tha ma bản Cú... đều sẽ ngập. Trong sáu bản phải leo, Tà Tủ 1 và 2 đã xong, nhưng 68 hộ của Nậm Ngặp phải chờ, mặt bằng chỗ mới vừa san ủi đã sạt lở. Chờ và phải chia làm đôi nơi, nghĩa là cái sự sang nhau ăn giỗ uống rượu cà kê dê ngỗng nó gieo neo hẳn, nghĩa là bố mẹ ốm con sang chăm khó lắm và nghĩa là tìm cách đưa em ấy về nhà mình cũng nan nguy hơn. Ông thợ rừng Tao Văn Bun chết vì cây đổ phải chôn nhờ nương ông Tao Văn Trái “còn đang bị thắc mắc”. Nước sinh hoạt rất thành vấn đề, tắm đã đành, nhưng khi nguồn từ trên núi xa “bỗng nhiên bị cắt”, người ta phải lấy nước ăn ở mương tiêu từ sớm “kẻo bản trên nó rửa xe tắm táp vẩn mất”.

 

Bản Lự Nậm Tăm 1 buổi chiều chan chát tiếng đục bào. Dấu vết quy hoạch rất rõ. Trên triền đồi đã san ủi phẳng phiu, những ngôi nhà sàn đang lên khá đẹp, có bể nước, khung cửi, trước mặt là đường rộng và cống thoát nước. Trước tấm bảng đề nguệch ngoạc “Mài lưỡi cuốc xẻng, dao búa đục bào và sửa máy xẻ”, trẻ em chơi trong đám bụi. Ông Tao Văn Cắm 52 tuổi bảo bê nhà từ Phiêng Lót lên đây lại thêm được hai gian, ruộng 2 ha vẫn làm chỗ cũ, rau gia vị về đấy lấy, mả ông bà di nên được cấp tiền tùy theo thời gian chôn (có ông cụ bốn người con đều khai mình lập mộ). Tết này bản toàn nhà mới gỗ đánh véc ni sáng choang, dư tiền sắm xe máy, ti vi (chạy máy phát từ trên khe nước cách 4km), chắc mổ lợn gói bánh chưng giã bánh giầy ra gì. Trường học, trạm xá, đường ô tô đấy, cái gì cũng (sẽ) mới toanh. Nghĩa là đáng phấn khởi lắm chứ gì.

 

Nhưng hỏi cả bản nay mai ruộng cũ ngập hết rồi sống bằng gì, chả ai trả lời được. Tỉnh đang tính phát triển cây cao su thì dăm bẩy năm mới sinh lợi được. Khéo mà lại lên rừng, mà rừng cũng chả còn cây già. Và trông cái bản miền núi phẳng phiu quá nó cũng thế nào, không còn vườn trên ao dưới để mà có khách là vác chài ra quăng là xong, mảnh vườn trồng hành thơm cũng chỉ bằng bàn tay, thịt con gà bới cả xóm không ra lá chanh. Người Lự người Thái đều làm ruộng nước, giờ chỉ làm ruộng nương chắc?

 

Chỉ anh chàng Tạ Đình Thắng từ Tam Nông, Phú Thọ lên là trúng. Nhà đầu bản bụi mù trời, nhưng từ lít xăng, gói mì tôm, túm muối cứ lại là có. Ra cái “thằng” Kinh, biết làm thương nghiệp, vẫn cứ ung dung hơn “đồng bào”.

 

Nhưng bản Phiêng Bủng (bãi đất trũng) ở xã Mường Bú bên Mường La, Sơn La lại là một bức tranh sáng sắc hơn. Không “di vén” mà đi hẳn bốn chục cây đến, nghĩa là đứt hẳn chỗ cũ, mà dân được ruộng đồi trồng mía, ao nuôi cá, quanh nhà khu vệ sinh, bể nước, chuồng trâu náu dưới um tùm bóng muỗm, nhãn. Nhà phó bản Lường Văn Loan có tủ lạnh, ti vi, xe máy, nồi cơm điện nhờ được đền bù 50 triệu (hộ trên 4 khẩu thêm 10 triệu mỗi người) và thưởng 3 triệu vì đi đúng lúc đúng chỗ. So với nhiều chỗ khác cũng đi xa cả bản, Phiêng Bủng cứ như cái tủ kính sáng choang, thuận tiện đủ đằng. Nhưng cũng có “những tồn tại”, như dân sở tại mất đồi nhãn cứ sưng mặt mất vui (đã đền bù rồi đấy chứ, và con cái đôi bên đã lấy nhau khá nhiều), như kiếm lá lẩu làm món lạp phải xa xôi quá.

 

Phiêng Bủng di lên từ Mường Trai (bản cây trai). Có câu é xỉ pay Mường Trai, é tai pay Mường Chiến, nghĩa là “muốn tìm gái đẹp thì về Mường Trai, muốn chết thì về Mường Chiến”. Đang giờ đi nương, tìm cả bản không thấy gái đẹp.  Chỉ những đàn bà có chồng tằng cẩu (búi tóc lên đỉnh đầu) ngồi xe máy đội mũ bảo hiểm hoặc không khóa được quai, hoặc túm thêm đoạn dây chuối, trông ai cũng lênh khênh.

 

*

* *

 

Sông Đà đang mùa nước chậm. Đứng từ trên cao nhìn xuống con đập đang lên ở Pá Vinh, thấy thợ tới lui hệt lũ kiến, còn sáu ống tuy nen của sáu tổ máy như những cái mồm lũ rồng to tướng. Điện sẽ ra từ đấy, thắp sáng những bản làng xa xôi, cho con đường vươn xa, trẻ nhỏ được xem “cái hòm có hình động đậy”, chảy về xuôi nuôi lũ người thắc thỏm không gút thì tiểu đường đang chen chúc đợi đèn xanh. Nhưng để được cái ao khổng lồ trên nguồn cho nước nuôi sáu ông tua bin quay là một cái giá còn hơn cả khổng lồ với những sinh linh bé nhỏ.

 

Những người ly hương đến nơi mới không hẳn quá thiếu đất trồng trọt. Nhưng từ những khe suối, nơi dễ dàng kiếm được những mảnh bằng phẳng bé con con để cắm cây lúa xuống, leo lên cao, họ chưa biết thâm canh với phần đất được chia. Làm vườn treo nuôi phong lan, “quay vòng”, “gối vụ”... là những khái niệm xa xôi lắm. Người miền núi xa rừng, có cái gì đấy giống với nông dân dưới xuôi đổi ruộng cho các dự án lấy tiền đền bù nhưng chả biết buôn bán, làm dịch vụ hay một nghề phi nông nào. Nghĩa là câu chuyện tái định cư còn dài, rất dài, ngay cả với vùng hồ Hòa Bình năm nảo năm nào mà cũng còn chưa chấm dứt.

 

Chưa kể những xòe Thái, thần thoại Hà Nhì, câu hát Cống..., dứt khỏi không gian sông suối, nó có như hạt sương mỏng tang trước mặt trời chói chang hay không...

 

Cho nên những vạt cúc quỳ chiều nay lại bập bỗng cả màu thấp thỏm...

 

Bút ký của Hoàng Định

VietBao.vn

E-mail to friend Email bài viết này


Các bài viết khác:

Tiếp theo >>


Tìm Kiếm: 

^ Về đầu trang | Viet Bao RSS | Dự Báo Thời Tiết | Lịch TV | Liên Hệ - Contact - Quảng Cáo


Copyright©2007 Viet Bao Viet Nam Mobile (xHTML Mobile version), thử nghiệm phần mềm pda.vietbao.vn 1.0