Việt Báo Việt Nam PDA


Lật đổ Saddam không đem lại hòa bình cho Trung Đông

Thứ tư, 12 Tháng ba 2003, 10:30 GMT+7


Ông Bush khẳng định rằng cuộc chiến Iraq sẽ mở đường cho tiến trình hoà giải giữa Israel và Palestine, bởi khi đó các du kích Hồi giáo không thể tấn công khủng bố vì mất người hậu thuẫn. Song, cội rễ của cuộc xung đột Trung Đông chính là lãnh thổ và nhiều người Palestine vẫn cho rằng nổi dậy là cách tốt nhất giải quyết vấn đề.

Lời hứa hẹn đáng chú ý nhất về tác dụng của cuộc chiến Iraq mà Bush đưa ra là nó sẽ đem lại hoà bình cho Israel và Palestine. Tổng thống Mỹ cho rằng yếu tố cản trở tiến trình này chính là các vụ tấn công của một số người Palestine, được Saddam Hussein hậu thuẫn, đồng thời khẳng định việc lật đổ nhà lãnh đạo Iraq sẽ chấm dứt nạn khủng bố đó. Bush nói: “Nếu chính quyền Saddam bị lật đổ, mạng lưới khủng bố sẽ mất đi nhà tài trợ giàu có, người cung cấp các khoá đào tạo và phần thưởng cho những kẻ đánh bom liều chết. Không có sự ủng hộ khủng bố từ bên ngoài, những người Palestine vẫn mong mỏi cải cách và dân chủ sẽ dễ dàng chọn nhà lãnh đạo mới”.

Tuy nhiên, quan điểm trên của ông Bush nhận được rất ít sự ủng hộ từ giới phân tích, các chính trị gia (những người tham gia nỗ lực hoà bình Trung Đông) và thậm chí các nhà lãnh đạo Israel và Palestine. Từng có nhiều cách giải thích sự thất bại của tiến trình hoà bình ở khu vực, nhưng Saddam Hussein chưa bao giờ là một trong số những nguyên nhân đó. Nhà lãnh đạo Iraq có thể được người dân Palestine yêu thích vì chống đối Mỹ, song ông chưa bao giờ là nhân tố quan trọng trong cuộc xung đột Israel - Palestine. Và dù Bush có thể đúng khi cáo buộc rằng Tổng thống Iraq cung cấp tiền đền bù cho gia đình những kẻ đánh bom liều chết, có lẽ Saddam không phải là nhà lãnh đạo Ảrập duy nhất làm như thế.

Quan điểm cho rằng xoá bỏ khủng bố sẽ khiến những nhà lãnh đạo Palestine theo tư tưởng ôn hoà sẵn sàng ký hiệp ước hoà bình với Israel là hầu như không có cơ sở. Phong trào cải cách trong xã hội Palestine nhằm chấm dứt nạn tham nhũng trong chính quyền Yasser Arafat là khá mạnh mẽ, nhưng yếu tố quan trọng nhất chính là các du kích Bờ Tây và Dải Gaza, những người tiến hành cuộc nổi dậy năm 1987-1991, lại bị loại ra ngoài khi Arafat và những người cùng ông lưu vong ở Tunisia lên nắm chính quyền sau hiệp ước Oslo. Ngày nay, một bộ phận trong số đó đã hạ vũ khí và cho rằng khủng bố không làm cho Israel ngừng chiếm đóng ở khu Bờ Tây và Gaza. Song, nhiều người vẫn cho rằng nổi dậy có vũ trang là cách tốt nhất để đạt mục tiêu ấy, và họ cùng chiến đấu với các chiến binh Hamas và Jihad, những người không chỉ muốn lập lại biên giới trước binh biến năm 1967 mà còn mong muốn xoá bỏ nhà nước Israel. Và cũng chưa có nhà lãnh đạo Palestine nào tỏ ý sẵn sàng chấp nhận phần đất ít hơn lãnh thổ được hoạch định dựa trên biên giới năm 1967. Trong khi đó, Thủ tướng Israel Ariel Sharon nói rõ rằng ông không có ý định để mất phần đất đó.

Giới phân tích Israel cho rằng theo ông Sharon, lãnh thổ Palestine không vượt quá 50% khu Bờ Tây và Dải Gaza, mặc dù trên thực tế, hầu hết lãnh thổ khu Bờ Tây giờ đây đều nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Israel.

Thậm chí dù các cuộc tấn công khủng bố chấm dứt, Sharon và người Palestine vẫn chia rẽ về vấn đề biên giới. Hai bên cần sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế để giải quyết tranh chấp xung quanh vấn đề này. Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Bush vẫn im lặng về vấn đề giới hạn khu định cư. Quan trọng hơn là sự im lặng của ông về nghị quyết 242 của LHQ. Theo đó, lính Israel phải rút lui khỏi khu vực mà họ chiếm đóng năm 1967 để đổi lấy sự công nhận của cộng đồng quốc tế, hoà bình và sự an toàn. Bản nghị quyết vẫn giữ các nguyên tắc cơ bản về giải quyết xung đột và là xuất phát điểm cho các cuộc đàm phán giữa Israel và Palestine trong tiến trình hoà bình.

Mùa hè trước, ông Bush cũng đã nhấn mạnh tới nghị quyết 242, nhưng chính quyền Washington không thống nhất quan điểm về việc có tiếp tục ủng hộ nghị quyết đó hay không. Phó tổng thống Dick Cheney, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, một số quan chức cấp cao Lầu Năm Góc và Elliot Abram, nhà hoạch định chính sách Trung Đông, là những người chỉ trích tiến trình hoà bình Oslo và bác bỏ ý kiến cho rằng Israel nên từ bỏ khu Bờ Tây và Dải Gaza. Một phe khác do Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell đứng đầu lại chủ trương thúc đẩy giải pháp chính trị cho cuộc tranh chấp dựa trên nghị quyết 242.

Bất chấp sự khẳng định của người đứng đầu Nhà Trắng, không có nhiều căn cứ để tin rằng Saddam ra đi sẽ đem lại hoà bình cho khu vực Trung Đông. Nguyên nhân của việc Israel và Palestine chưa có được hòa bình chẳng liên quan gì đến nhà lãnh đạo Iraq. Cho đến khi nào Mỹ có thể thúc đẩy hai bên thỏa hiệp về lãnh thổ theo nghị quyết 242, hoà bình giữa Israel và Palestine vẫn là điều khó đạt được. Đó là lý do phe bồ câu Israel đang châm biếm rằng viễn cảnh khôi phục lại thỏa thuận hoà bình với người Palestine có thể hiện thực hoá bằng sự thay đổi chế độ ở Washington chứ không phải ở Baghdad.

Ngọc Sơn (theo Time)



Việt Báo //

E-mail to friend Email bài viết này


Các bài viết khác:

Tiếp theo >>


Tìm Kiếm: 

^ Về đầu trang | Viet Bao RSS | Dự Báo Thời Tiết | Lịch TV | Liên Hệ - Contact - Quảng Cáo


Copyright©2007 Viet Bao Viet Nam Mobile (xHTML Mobile version), thử nghiệm phần mềm pda.vietbao.vn 1.0