Việt Báo Việt Nam PDA


Hiểu sao thì hiểu

Thứ tư, 04 Tháng mười 2006, 18:43 GMT+7


Hieu sao thi hieu
Tiểu đoàn 307 hành quân giữa ban ngày. Tin tình báo của ta cho biết Tiểu đoàn BVN (Bataillon Vietnamien) của giặc đã di chuyển xuống Cà Mau chuẩn bị càn quét vùng An Xuyên Tân Lộc để cướp lúa của đồng bào.

Mấy lần Tiểu đoàn 307 về An Xuyên chờ đón đánh bọn càn quét BVN đều trượt. Ta đến thì giặc không động tĩnh, bộ đội rút đi chúng lại vào. Thiệt hại của đồng bào như muối xát lòng chiến sĩ, hơn nữa xóm Tân Lộc An Xuyên từ cụ già đến em bé đối với từng tiểu đội, từng chiến sĩ của Tiểu đoàn thân thương như người nhà, vá từng mảnh áo, chia xẻ từng con mắm, lá rau và cả những cuộc trao đổi hẹn hò với ai đó cùng trang lứa.

Ra đi từ kinh Bảy, xã Trí Phải đến kinh Chắc Băng, sau đó qua đò đi bộ dọc bờ kênh Huyện Sử, cờ đuôi nheo phất phới trước đội hình các tiểu đội.

Cậu Mạnh, trinh sát đi trước dẫn đường. Mặc quần đùi, sơmi đen hai túi bỏ vào thùng cẩn thận, lưng thắt xen-tuya-rông, cài bên hông hai quả lựu đạn, vai đeo balô, trông bô trai ra dáng. Gặp đàn trẻ nào ra ngõ đứng xem, anh chiến sĩ búng tay đánh tróc, vừa bước vừa vò đầu đứa bé nhất.

Trời nắng chói chang nhưng lộng gió.

Trên dòng kênh, một chiếc xuồng băng băng rẽ nước. Xuồng cắm hai tàu lá dừa nước làm buồm, đằng mũi một cô buông dầm ngồi nghỉ, đằng lái một cô xuôi mái dầm giữ lái. Xuồng chở đầy khóm. Những trái khóm chín mọng, vàng tươi, chất khéo từ mũi đến lái.

Cô ngồi mũi đội khăn rằn, miệng cắn chéo khăn che nắng chỉ chừa có đôi mắt.

Cậu chiến sĩ đi sau lưng Mạnh bước tới nói nhỏ:

- Ê Mạnh! Ai như Một Thảo.

- Thảo nào?

- Thảo “ngôi sao” ấy! Mầy không thấy chị Mười ngồi sau lái sao?

Mạnh cố giữ vẽ bình thản để giấu sự xao xuyến bất ngờ. Đúng rồi, lưng áo bà ba kia không ai khác là của con người hiếm có ấy.

Hồi đóng quân ở xã Trí Phải, Mạnh không được cái diễm phúc đóng quân ở nhà cô Thảo, nhưng ở cùng trên một dòng kênh Bảy, ngày ngày đi lại, làm sao khỏi trông thấy. Phương chi còn cái biệt danh “ngôi sao” do lính ta kháo nhau khi nói về cô. Cô gốc người Bến Tre, quê hương bị chiến tranh tàn phá, gia đình trôi dạt về đất U Minh này từ năm bốn tám, phá rừng làm rẫy, gian khổ bao năm không làm cho cô bé mười ba lếch thếch theo cha mẹ tản cư hồi ấy, không làm cho cô gái mười chín ngày nay, phôi pha nét duyên dáng Bến Tre. Mái tóc, nước da, và đôi mắt long lanh kia đang e ấp dưới chiếc khăn rằn mộc mạc.

Ôi! Giá mà gió bớt lộng đi một ít cho cánh buồm bằng lá dừa nước kia đừng kéo xuồng đi nhanh, cho thuyền và bước chân hành quân song song nhau mãi mãi để an ủi tấc lòng người chiến sĩ.

Và chỉ tại cái miệng thôi! Câu chuyện sắp kể dưới đây phức tạp cũng chỉ vì mấy tiếng buột từ cái miệng Mạnh:

- A! Trời nắng, phải có trái khóm ăn, mát bụng!

Mạnh buột miệng nói to cho dưới xuồng nghe được.

Chéo khăn rằn rời đôi môi, dáng dấp mảnh dẻ của cô Thảo đứng lên. Cánh buồm lá dừa nước theo đôi tay hạ xuống. Xuồng đang lướt gió giảm tốc dần cho đến khi bước chân hành quân theo kịp.

- Mời các anh.

Từ dưới xuồng, trái khóm đầu tiên tung lên. Cậu Mạnh đón lấy vừa cám ơn vừa ấp trái khóm vào ngực đúng vào chỗ trái tim đang đập.

Chị Mười sau lái cũng đứng dậy. Hai chị em thi nhau nhặt trái tung lên. Chiến sĩ lần lượt theo chân bước đón bắt, ai cũng có phần.

Cảnh tung hứng rộn trong tiếng cười. Chiếc xuồng thả trôi chậm lại, bước chân hành quân theo cự ly lướt lên, năm đại đội đi qua, trên ngàn người ai cũng được một trái thơm chín mọng.

Trưởng ban chính trị Tiểu đoàn đi sau, anh không đến đỗi bất nhã mà từ chối món quà từ dưới xuồng tung lên, đưa tay đón lấy trái khóm và nhìn thấy chiếc xuồng chở khẳm đã lướt qua mấy phút trước, giờ đây không còn trái nào.

- Mấy anh đi mạnh giỏi nghe!

Hai cô cầm dầm, quay mũi xuồng trở về Trí Phải.

Trưởng ban chính trị cầm quả khóm khó xử. Mình đã vô tình để cho đơn vị mắc lỗi với dân, lạm dụng lòng tốt của đồng bào. Anh quay bước đuổi theo xuồng.

- Hai cô ơi! Cho tôi gởi trả tiền khóm.

Anh phải xòe hai bàn tay làm loa để át tiếng gió lộng.

Dưới xuồng nổi lên tiếng cười khúc khích. Cô Thảo đưa mái dầm lên không quơ qua quơ lại ra hiệu chối từ. Cô hạ mái dầm xuống lòng xuồng và cô cũng lấy tay làm loa:

- Mời mấy anh ăn lấy thảo! Em về nhà chở xuồng khác…

---

Cuộc hành quân về Tân Lộc An Xuyên lần ấy không được gì. Tiểu đoàn BVN lẩn quẩn ở thị xã Cà Mau ba ngày rồi lên xe rút đi mất.

Lính ta chỉ được mấy buổi liền ngồi ngay xương sống nghe kiểm thảo về chuyện dân vận. Câu chuyện “ăn hết cả xuồng khóm” được nêu làm điển hình.

Đồng bào ta rất tốt, đã cực khổ vì chiến tranh, đã lao động vất vả để nuôi quân đánh giặc… Là con em của nhân dân, ta không được lạm dụng lòng tốt ấy, gây gánh nặng cho đồng bào… Phải tôn trọng của dân từ cây kim sợi chỉ, lời thề vệ quốc ấy phải là ý thức của từng người chiến sĩ.

Anh chàng Mạnh được mời đứng lên nêu một tấm gương không mấy gì sáng sủa lắm. Chẳng lẽ lại thanh minh rằng chỉ vì thèm được nhìn hai cái ngôi sao trong đôi mắt ấy, mà mình buột miệng nói rằng mình thèm ăn khóm cho mát bụng. Tiểu đoàn vừa ở Trí Phải ngay cái xứ khóm, ăn đến rát lưỡi rồi, còn thèm cái nỗi gì? Nhưng dầu sao cũng là trách nhiệm. Xuồng khóm chở khẳm, sạch sẽ không còn trái nào. Đúng như chính trị viên nói, mình thật là có lỗi.

Rồi anh tự bảo: “Làm lỗi mà không dám nhận lỗi là hèn, nặng tội hơn làm lỗi. Nhận lỗi rồi để đó không sửa chữa là nói dối, nặng tội hơn là sự hèn nhát nữa”.

Vậy thôi mình phải sửa chữa, nhưng trong sự việc này, lấy gì mà sửa chữa, cả một ghe khóm chất đầy khẳm, tiền lấy đâu ra để bồi đắp lại cho gia đình cô Một Thảo? Mà dù có đủ đi nữa chưa chắc gì cô Một Thảo chịu lấy cho vì cô đã tự nguyện mời các anh ăn cho vui. Vui gì lạ vậy? Thoáng một cái hết trọi một ghe khóm!

Mạnh tự vạch ra cho mình một kế hoạch sửa chữa sai lầm thiết thực. Anh sẽ đi trồng khoai để bồi đền.

---

Rất là may! Chờ giặc không thấy, Tiểu đoàn lại hành quân về địa điểm cũ, xã Trí Phải.

Một buổi sáng, ông già Bến Tre đang ngồi bóc vỏ tràm, có một anh lính trẻ đến chào hỏi rồi ngỏ ý xin đất để tăng gia.

- Đất thiếu gì, chú có trồng thì trồng.

Hồi ấy trong vùng kháng chiến Nam Bộ đã có chính sách tạm cấp ruộng đất. Ở vùng rẫy Cà Mau, mỗi hộ dân được cấp đất đo theo mặt tiền bờ kênh một trăm thước và cứ thế khai phá thẳng mút mùa sâu vô rừng U Minh, sức đến đâu làm đến đó. Rẫy nhà ông già Bến Tre ngoài lúa, chuối, khoai, sắn còn có hơn một mẫu vừa thơm, vừa khóm, tốt choán cả lối đi. Mỗi lần hái trái phải lấy dao phát chặt lá mở đường mà đi.

Trong Tiểu đoàn 307 có phong trào “vừa đánh giặc vừa tăng gia sản xuất”, nên hàng ngày đóng quân ở đâu chiến sĩ tìm đất tìm giồng trồng trọt. Hành quân đi sẽ để lại cho dân trông coi, đến ngày kết quả, không được dịp trở lại đồng bào sẽ thu hoạch, miễn làm sao nguồn lương thực của vùng kháng chiến được dồi dào, ăn no thắng giặc là tốt.

Ông già Bến Tre dẫn người chiến sĩ xin đất đi qua rẫy dứa.

- Tên chú là gì?

- Dạ cháu tên Mạnh.

- Hừ! Thời buổi giặc giã này, mạnh giỏi là quý.

Ông chỉ cho Mạnh phần đất giáp ranh rẫy dứa:

- Đấy! Sức chú trồng được bao nhiêu cứ phá mà trồng!

Từ đó, ngày ngày Mạnh bắt tay vào phát sậy lên luống. Trời nắng to, rẫy phát hôm trước đến trưa ngày sau đã khô. Đất trầm tích nhưng dễ cháy không đốt sậy được, phải gom đánh đống lại thật là vất vả. Bụi đất bán lên tấm thân trần ướt đẫm mồ hôi, lá cỏ bén như lưỡi cưa rạch dọc ngang da thịt. Thỉng thoảng cô Thảo xách cho ấm nước, bưng cho bát chè, mang theo cả ánh sao trên đôi mắt. Và nhất là có lần mưa lâm râm ướt tóc, cô đem dầu ra cho anh xoa để phòng cảm mạo. Cái loại dầu Hồng Lạc thơm thoang thoảng, nhưng lại thơm lâu, đêm về vào giấc ngủ rồi vẫn còn nghe phảng phất. Lúc nghỉ tay vào nhà ngồi trên chiếc chõng tràm, má Thảo hay hỏi thăm “Quê con ở đâu? Ba má con còn mạnh giỏi?” và hơn nữa” “Con đã lập gia đình chưa?”.

Rồi má khen:

- Sao nó giống hệt anh Hai bây hồi còn trẻ.

Má nói với cô Thảo như vậy vì má nhớ con trai của má ở Bến Tre đang làm lính ông Cống (Chi đội 19).

Phát dọn cỏ xong, Mạnh lên luống trồng khoai. Cô Thảo thấy anh làm cỏ một mình, đi cắt giùm dây hom giống. Và khi người con gái lom khom theo luống đặt hom cho anh nghiêng lưỡi cuốc vun đất, bàn tay ấy, mái tóc ấy, thơm thơm mùi dầu Hồng Lạc cùng ngọn gió mát rượi mùi rễ cây U Minh làm cho người lính trẻ chạnh mơ ước: “Oi, giá mà thanh bình trở lại”…

---

Tin quân báo từ Bộ tư lệnh Quân khu 9 lại điện về cho hay bọn BVN lại kéo nhau xuống thị xã Cà Mau chuẩn bị càn quét vào Tân Lộc cướp lúa.

Lệnh cho Tiểu đoàn 307 phải cấp tốc hành quân về Tân Lộc đón đánh.

Chờ suốt ba ngày ròng rã, lại như lần trước, thằng giặc bất động nằm ỳ ngoài huyện lỵ. Ai cũng nóng ruột.

Người viết bài này còn nhớ, buổi chiều ấy anh Tiên, anh Cò Tám, chính trị viên tiểu đoàn và tiểu đoàn phó đang trải chiếu ngồi ngoài sân nói chuyện với anh em và vài người dân trong xóm. Gần gũi anh Tiên nhiều năm, linh cảm báo cho tôi biết có một ý nghĩ gì chợt đến với anh, vì tôi quen thấy mỗi khi sáng kiến nẩy nở trong đầu, gương mặt có nước da bánh mật của anh lại thẫm hơn. Hai anh vào trong hội ý với nhau một lúc và đột ngột ra lệnh hành quân.

Nước lớn liền bờ. Trên trăm chiếc xuồng bơi mát nước. Dân hai bên bờ đổ ra tiễn đưa. Cảnh rộn rịp hành quân công khai ấy, có gió mát, có sóng vỗ lăn tăn, đồng thời cũng có ấm ức vì lại một lần nữa, không có đánh đấm gì cả, xuồng quay mũi trở về căn cứ.

Mạnh ngồi vắt vẻo trước mũi xuồng, cắm cúi chèo. Chợt có tiếng ai quen quen gọi tên mình. Anh ngẩng lên, bên kia sông, một đoàn ghe chèo ngược dòng về hướng Cà Mau. Bà con từ căn cứ chở lúa ra Cà Mau bán. Chị em cô Một Thảo vẫn tay mừng rỡ. Ông già Bến Tre lót ván ngồi trên mặt lúa cười thân mật. Cuộc gặp gỡ đột ngột lướt qua gieo vào lòng người chiến sĩ nỗi bâng khuâng khó tả. Giá mà có con mắt sau lưng, anh sẽ theo dõi đoàn ghe đến khi khuất bóng.

Bơi chèo từ nước lớn đến nước đổ ròng, nửa đêm cả đoàn xuồng dừng lại. Ban chỉ huy tiểu đoàn có xuồng nhẹ lướt lên trước từ lúc nào, đón đoàn quân ở khoảng gần chợ Hội.

Lệnh chuyền miệng mời Ban chỉ huy các đại đội. Cuộc hội ý phổ biến kế hoạch chiến đấu tổ chức trên năm chiếc xuồng cặp vào nhau lênh đênh trên mặt sông.

Sau đó cả Tiểu đoàn đổ bộ lên bờ, chuẩn bị cơm nắm, gởi xuồng lại cho đồng bào.

Đoàn quân âm thầm lội băng đồng đi trở lại. Xóm Tân Lộc vẫn yên giấc, không hề biết ngoài đồng xa đoàn quân ra đi ban chiều đã bí mật trở lại tránh tiếng chó sủa, bọc vòng đi ra tận Bầu Thúi gần thị xã Cà Mau hơn nữa.

Tại Cà Mau, đúng như ta phán đoán, Tiểu đoàn BVN có cài bọn chỉ điểm nằm vùng ở vùng An Xuyên Tân Lộc. Tin Ba lẻ bảy đã rút quân cũng được bọn tay sai báo cho chúng ngay trong đêm ấy.

Nắm được thời cơ, chắc chắn tránh được đụng độ với Ba lẻ bảy, chúng lập tức cho hành quân để sáng mai đánh vào Tân Lộc càn quét cướp lúa, và hạ uy tín Tiểu đoàn Ba lẻ bảy.

Kể ra bọn chỉ huy BVN cũng thông minh, chúng chia làm hai cánh, giữa đêm băng đồng thọc sâu một cánh vào Bà Đê, một cánh vào Tân Lộc để đến sáng sớm từ đấy càn quét trở về. Cái gọng kềm ấy, sẽ kẹp xã Tân Lộc, An Xuyên vào giữa từ sáng tinh mơ để từ đấy càn quét trở lại, sạch gọn và an toàn.

Đâu hay, âm mưu không lường được cái ngoài dự đoán. Tiểu đoàn 307 rút quân đi, cái bẫy sập đã được tháo dỡ, bọn chỉ điểm nằm vùng hí hửng lặn lội ra báo tin với bọn chủ để tranh công, thằng giặc như con cáo ranh ma xông vào chuồng gà tác quái. Đâu có ngờ tấm lưới của người thợ săn chờ đến lúc ấy mới bủa giăng trên con đường rút lui về hang của nó.

Hai Đại đội 931 và 932 của Tiểu đoàn đã đi vòng, hành quân ra tận Bầu Thúi ém sẵn trên con đường về của giặc. Hai tấm lưới phục kích chặn dọc theo hai khu vườn mà cánh đồng trống ở giữa có nhiều sình môn là cái rọ để bứng.

Đại đội 933 thứ ba trong khi ấy ở lại hậu bối phía sau khu vườn dừa của cái xóm cuối cùng của xã Tân Lộc, An Xuyên.

Đồng bào các xóm ngoài, sớm tinh mơ chưa kịp tỉnh giấc đã bị giặc áp đến bất ngờ, cướp của. Bọn chúng còn xúc lúa của dân, lấy xuồng ghe để chở. Đoàn ghe lúa hôm qua có cô Một Thảo nằm ở Tân Lộc chờ con nước sáng cũng bị kẹt và bị bắt.

Ông già Bến Tre bị trói cánh khỉ trong khi gần ba chục ghe lúa bị giặc lùa đi về hướng vùng bị chiếm như chỗ không người.

Thấy giặc đã lọt vào tầm nhìn từ khu vườn đối diện, Đại đội 933 xung phong qua cánh đồng trống đánh vỗ mặt. Con cáo bị trúng thương bỏ mồi rút chạy, những tưởng còn đường trở về hang ổ phẳng phiu, chúng tha hồ phóng chạy, bỏ xa các hiểm họa từ sau lưng. Nào ngờ chạy đến đâu lưới bủa sẵn đến đấy.

Mạnh cùng đồng đội tràn vào vườn. Đang trinh sát cho các đội cảnh giới vượt lên, vẳng nghe tiếng gọi của chị em cô Một Thảo đang bất chấp đạn réo, quơ khăn rằn vẫy gọi, anh mừng vì các cô được giải thoát, còn các cô gái nhìn theo các anh bộ đội như nhìn những vị cứu tinh. Mạnh ra hiệu bảo các cô nằm xuống đề phòng đạn lạc rồi tiếp tục truy kích.

Ngoài Bầu Thúi, súng nổ rộ. Mạnh hồ hởi nghĩ phục lăn Ban chỉ huy Tiểu đoàn mình, cơ trí và táo bạo quá. Vậy mà lúc bỏ xuồng lên bờ đêm qua, anh thầm trách không biết mấy ông nội cho lính mỏi rụng cả gối để làm gì.

Bộ gối mỏi rụng ấy giờ đây vào trận súng nổ tứ giăng, lại có chiếc khăn rằn từ dưới ghe lúa vẫy vẫy như phất cờ động viên nữa, lúc này đã quên cả mỏi. Nó cứ phóng tới. Giặc chạy, phải nắm thời cơ truy kích tới cùng. Binh thư đã dạy thế. Cuộc rượt đuổi kéo dài trên mười cây số, đất cày có, sình lầy có, sông rạch chắn ngăn có, đến nỗi Tiểu đoàn BVN về đến Cà Mau còn vỏn vẹn… tám thằng! Sáu mươi tám thằng áo vàng bị bắt làm tù bình trong cái lưới sập của đại đội 931 và 932 tại Bầu Thúi. Còn bốn trăm thằng nằm luôn trên mảnh đất An Xuyên Tân Lộc.

Một tiểu đoàn đánh một trận thu súng trang bị đủ cho một tiểu đoàn, xóa phiên hiệu của Tiểu đoàn BVN. Qua khai thác bọn tù binh, ngay hôm đó Tiểu đoàn tóm luôn bọn chỉ điểm nằm vùng.

---

Ông già Bến Tre hú vía sau khi được cởi trói. Tưởng phen này bị dẫn về Cà Mau sẽ ốm đòn. Ngờ đâu, kẻ bị bắt trói giờ đây đổi đời làm người đi xem bọn tù binh như đi xem triển lãm. Ông nấn ná ở lại không về chờ đến chiều, bộ đội đóng quân trở lại vào các nhà dân ở Tân Lộc, ông chống ghe dọc theo bờ sông, tìm cắm sào dưới bến nhà Ban chỉ huy đại đội 933 để cảm ơn cứu mạng ba cha con ông và giành lại cho ông ghe lúa khỏi rơi vào tay giặc.

Một Thảo để chị coi ghe, tranh thủ đi tìm Mạnh. Cô đưa anh ra chỗ gốc dừa xà. Gốc dừa bị nước xoáy, một phần bộ rễ không còn đất bám nhô ra tạo thành chỗ khuyết trên mặt nước.

Cô giận dỗi nói:

- Em nghỉ chơi với anh Mạnh, không nhìn mặt nữa đâu.

Mạnh sững sờ:

- Thảo có biết tôi buồn bao nhiêu không, khi nghe Thảo nói câu ấy. Nhưng có chuyện gì mới được?

- Ai biểu! Ai biểu anh làm rẫy trồng khoai để đền xuồng khóm cho em? Anh coi em là đứa như vậy à?

- Ai nói với Thảo?

- Chị Mười nói. Chị Mười quen với anh Tư tiểu đội trưởng của anh, anh Tư nói như vậy. Anh Tư bảo anh xin phép anh Tư đi làm rẫy khoai để bồi đền ghe khóm. Anh Tư cho anh em trong tiểu đội đi làm giúp anh, anh không chịu, anh có lỗi là để anh tự sửa, anh Tư bảo anh phải đồng ý để anh được nhẹ lòng.

- Vậy Thảo không muốn cho tôi sửa lỗi à?

- Anh có lỗi với ai chứ không có lỗi với em. Rẫy khoai đó anh muốn vác đi đem đi đâu thì đem! Em dứt khoát không nhận đâu.

- Rẫy khoai ở trong đất nhà Thảo, tôi làm sao vác nổi?

Thảo quay mặt đi, kéo chéo khăn rằng che miệng vì tự buồn cười cho câu trách móc của mình.

- Không biết! Anh làm sao thì làm, em không nhận đâu! Dứt khoát rồi đó!

- Thôi thì … Thôi thì để đó làm của chung hai đứa… Chịu không?

Hai người im lặng rất lâu. Chợt người con trai nói bâng quơ:

- Nhức đầu quá! Có dầu Hồng Lạc cho tôi xức miếng.

Người con gái lẩn tay vào túi áo, lấy ra ve dầu Hồng Lạc, ve dầu mà ngày ngày cô đem ra rẫy cho người con trai xức phòng khi nắng gió ấy. Cô vẫn ngoảnh mặt, đưa chai dầu ra sau lưng, miệng nói trống không:

- Nè!

Mạnh đón lấy chai dầu, mở nút, xức lên trán. Hương dầu Hồng Lạc lan nhẹ, gợi nhớ lần đầu tiên được xức dầu của Một Thảo ngoài rẫy đã làm tâm tư người lính xao động. Con kiến lửa dưới rễ dừa bò lên cắn làm anh phải co chân lên gãi để một hòn đất rơi xuống sông. Con cá thòi lòi ẩn dưới đám rễ dừa nghe động lao xuống, rạch một đường rẽ trên mặt nước, qua bên kia nó lướt lên bãi bùn xoay đầu lại, hai con mắt lồi xanh biếc trợn tròn nhìn đôi bạn trẻ nghi vấn.

Mạnh đậy nút chai dầu, trao trả.

Một Thảo thỏ thẻ:

- Thôi anh cầm lấy, giữ đó mà dùng. Nhớ! Đi đâu trời mưa nắng gió sương phải nhớ xoa dầu, để đau ốm em buồn lắm nghe hôn!

Nghe mấy lời ngọt lịm đến ruột gan, chiến sĩ ta bèn thả nghề trinh sát ra thăm dò thêm:

- Chứ không phải để mỗi lần xức dầu người ta nhớ đến mình sao?

Câu hỏi thăm dò làm cô gái buồn cười và sung sướng. Cô cắn chéo khăn bất giác quay lại nhìn anh. Chao ôi! Đây là lần đầu tiên, thỏa bao ngày mơ ước, anh được ngắm trọn vẹn đôi sao cận kề đến thế. Hai ngôi sao ấy chiếu sáng rực rỡ, lại còn biết nguýt nữa:

- Ai muốn hiểu sao thì hiểu!

Anh lính trinh sát mừng rơn. Thật chẳng bỏ công bấy lâu nay mình theo cái nghề lính trinh sát!

---

Chuyện vui thấm thía nhất nhờ có “hạ hồi phân giải”. Người kể xin bổ sung thêm phần: Dầu Hồng Lạc hậu truyện:

Nhắc lại hồi Mạnh mới vào lính ở đội trinh sát, Tiểu đoàn đánh thắng trận Cầu Kè, diệt đồn Bắc Sa Ma phục kích đánh vận động chiến tại Phong Phú thu rất nhiều chiến lợi phẩm. Lính văn phòng đại đội 933 vác về mấy thùng lớn tưởng là thùng đạn đại bác, lúc khui thùng thấy toàn là dầu thơm, nước hoa (eau de cologne) gốc Pháp hẳn hoi, toàn chai nửa lít có đến hàng mấy chục chai, xếp đầy một bàn giữa Văn phòng đại đội. Để đó, ai muốn xịt thì xịt.

Người đi qua, kẻ đi lại, chiến sĩ có, cán bộ có, ai cũng mở nút vừa xịt vịt, vừa vò đầu thoải mái. Nếu không phải là ngôi nhà lá, giữa vùng vườn tược sầm uất, nghe mùi thơm có thể tưởng đây là nơi đô thành hoa lệ.

Của chùa, xịt mãi rồi cũng hết. Cậu Mạnh nhà ta đi nhận công văn từ tiểu đoàn về đại đội liếc nhìn thấy chỉ có một chai. Đúng là chữ viết của ông Phát, trưởng văn phòng đại đội, ghi vào tờ giấy treo ở cổ chai: “Còn ít! Yêu cầu xịt tiết kiệm, xịt rồi cấm phổ biến!”

Mạnh ta vớ chai dầu, xịt liên tục mấy phát, vò thật lực cho thơm ngấm đến da đầu.

Nhưng quái lạ, dầu eau de cologne chính hiệu sao lại có mùi khăm khẳm. Không tin ở khướu giác mình, Mạnh ta đưa tay lên mũi: Đúng là mùi nước mắm!

Xem lại chai dầu thấy vẫn trong vắt, hồng tươi. Ngửi miệng chai thấy vẫn thơm, nhưng hít mạnh: Đúng bên trong toàn là nước mắm nhỉ.

Mạnh biết là bị lừa rồi. Tiểu đội văn phòng chơi khăm anh em, lấy nước mắm rót vào chai nước hoa. Vì thói quen nên mất cảnh giác, lính ta cứ thế mà xịt.

Mạnh ta định kêu lên cho đã tức, nhưng chợt nhớ tới câu “cấm phổ biến” ghi trong tờ giấy. À! À! Nếu mình kêu, thằng khác sẽ không mắc phải như mình, nên đành ngậm bồ hòn để đó.

Cậu ta ra sân chờ xem, lần lượt bao nhiêu anh chàng ăn quen lần vào mở nút xịt, cũng vò đầu, cũng ngửi tay, cũng ngậm bồ hòn bỏ đi làm Mạnh ta mắc cười đến phải ôm gốc dừa cho khỏi lộn ruột.

---

Đó là chuyện cũ, giờ đây là chuyện mới. Chuyện dầu Hồng Lạc.

Dầu Hồng Lạc vừa là thuốc giải cảm, vừa là dầu thơm, lại là món quà ân tình của cô Một Thảo.

Mạnh quý chai dầu Hồng Lạc, họa hoằn lắm mới hé ra hít thở cái mùi thoang thoảng từ cái lọ thủy tinh có dán nhãn in hình người phụ nữ Việt Nam đeo sợi dây chuyền.

Ôi! Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi! Có phải Một Thảo trao tay cho mình chai dầu là cô muốn mượn hương thơm để gửi gấm cho mình nỗi nhớ?

Cho đến một hôm hành quân xa, tiểu đội trinh sát đi liền với tiểu đội văn phòng. Mạnh lấy dầu ra xức, hương thơm theo gió lan ra. Có tiếng từ sau lưng:

- Có dầu cho xức miếng!

Thế là chai dầu được chuyền tay nhau từ người này sang người khác, khi trở lại chủ cũ chỉ còn cái lọ không. Mạnh xót dạ, tiếc của thì không, chỉ tiếc đứt ruột món quà kỷ niệm: “Dầu này là dầu của Một Thảo”.

Thôi thì đành chờ tới đầu tháng, tiểu đội phát cho năm đồng tiền phụ cấp tiêu vặt, ra chợ Thới Bình mua một ve dầu khác. Nửa chai sớt vào cái chai của Một Thảo cho để dành, nửa chai phòng khi có ai hỏi xin “có dầu cho xức miếng” đồng thời cũng là để “rửa hận”. Cái hận là trước đây, tiểu đội văn phòng chơi khăm cho cả đại đội dầu eau de cologne toàn nước mắm ấy. Vì vậy khi đi mua dầu, Mạnh ta không quên mua thêm một viên mực tím.

Dịp ấy đã đến. Sau cái ngày hiệp định Genève đã ký, nghe tin có một đơn vị của giặc lợi dụng hiệp định lấn chiếm vào vùng kiểm soát của Kháng chiến trên miệt Phước Long, đại đội 933 được lệnh hành quân ra hỗ trợ cho Ban liên lạc đình chiến buộc giặc phải rút lui. Làm xong nhiệm vụ lại phải lội bộ hành quân về Trí Phải. Đêm trời mưa như trút nước cứ phải vuốt mặt mà đi, đường trơn sình lầy, cầu khỉ lắc lư và đến đầu kênh Bảy đã bốn giờ khuya, mưa dần dần dứt hạt.

Mạnh bèn thực thi kế hoạch. Chai dầu Một Thảo cho được mở nắp, dầu thấm vào đầu tay, xoa lên thái dương, mùi thơm thoang thoảng loang ra phía sau làm tiểu đội văn phòng thèm hơi nóng của dầu Hồng Lạc.

Anh chàng Phát, trưởng văn phòng đại đội, kẻ chủ mưu vụ xịt nước mắm trước đây, xề tới:

- Ê! Có dầu cho xứcmiếng!

Mạnh lợi dụng trời tối bỏ chai dầu đang dùng vào túi tráo lấy chai dầu mua ở chợ Thới Bình có trộn lẫn mực tím trao tay:

- Này! Xoa rồi chuyền cho anh em xức, dầu này chống lạnh tốt lắm.

Nghe sau lưng, chàng Phát vừa xoa, vừa hít hít. Mạnh bảo:

- Bôi luôn hai bên màng tang và trên trán nữa mới đủ ấm.

Nghe anh em khác giục phía sau lưng:

- Cho xức miếng!

- Cho xức miếng!

Phát ta tranh thủ chấm xoa lia lịa. Trao dầu cho người khác xong, anh chàng còn xòe cả mười ngón chà xát từ các chỗ có dầu lên xuống dọc ngang khắp mặt theo kiểu đánh gió.

Qua hết trên mười tay của tiểu đội văn phòng dầu bốc hương thơm lừng, chai dầu được trả lại chủ cũ, sạch trơn không còn một giọt. Và tất nhiên cái chai không cũng được phi tang xuống nước không còn vết tích.

---

Trời vừa hửng, đơn vị về đến địa điểm.

Tiểu đội văn phòng tập họp một hàng dọc, trước sân nhà Một Thảo. Hôm nay văn phòng được phân công ở nhà này.

- Nghiêm! Nhìn trước thẳng! Bên trái quay!

Và khi cả đội hình quay mặt về phía tiểu đội trưởng đang chỉ huy hô khẩu lệnh, chánh văn phòng Phát thấy thuộc cấp của mình, mặt nào cũng vẽ râu màu mực tím, bôi nhăng bôi nhịt dưới mũi, trên trán, hệt như đoàn tuồng chưng bươm bướm trên sân khấu.

Vừa sửng sốt vừa bực mình, tiểu đội trưởng chưa kịp có thái độ thì mọi người đã cười rộ cả lên.

Bực quá! Đã vẽ hề không nghiêm túc còn cười cợt trêu ngươi, anh chàng Phát bèn nạt:

- Nghiêm!

Mười hai cái gót chân chắp lại theo tư thế nghiêm, nhưng mà cái miệng nó không chịu nghiêm. Tiếng cười cứ phì ra.

Chàng Phát thấy chột dạ. Chẳng lẽ mặt mình cũng có? Chực nhớ ra, ông Phát đưa tay lên nhìn: ngón tay nào cũng dính mực! Ông bèn quát:

- Thôi đi! Cười cái gì! Các cậu nhìn mặt nhau thì biết.

Tiểu đội văn phòng nhìn nhau. Trẻ em, người lớn cả xóm cũng đổ ra nhìn.

Cả tiểu đội chạy búa xua tìm nước rửa…

Người ta tóm được cậu Mạnh ngay trong nhà Một Thảo. Cậu ta nhanh chân đến đấy tự lúc nào.

- Đưa chai dầu Hồng Lạc đây cho anh em xem!

- Đây!

- Tại sao cậu pha mực tím vào dầu cho anh em xức?

- Đâu?

Mạnh lắc lắc chai dầu đưa lên ánh sáng cho mọi người xem. Vẫn cái nước màu hồng trong vắt. Cậu ta còn ung dung mở nắp dốc ngược chai, chấm dầu xoa lên mũi, dầu vẫn thơm, mặt vẫn sạch sẽ.

Chờ một lúc, đủ nhìn rõ nét mặt ngơ ngác khó hiểu của tiểu đội văn phòng, thủ phạm mới phân bua.

- Thôi hòa một đều nhé! Ai bảo hồi đó các cậu cho chúng mính xịt nước mắm!...

TRẦN KIM TRẮC

Việt Báo //

E-mail to friend Email bài viết này


Các bài viết khác:

Tiếp theo >>


Tìm Kiếm: 

^ Về đầu trang | Viet Bao RSS | Dự Báo Thời Tiết | Lịch TV | Liên Hệ - Contact - Quảng Cáo


Copyright©2007 Viet Bao Viet Nam Mobile (xHTML Mobile version), thử nghiệm phần mềm pda.vietbao.vn 1.0